Giếng Chăm cổ ở làng Pháp Kệ, xã Quảng Phương (huyện Quảng Trạch).

Người Chăm sử dụng triệt để điều kiện tự nhiên sẵn có như sông, gò, đồi, núi... cùng địa hình, vị trí địa lý, sông ngòi để xây thành, lũy thành những pháo đài phòng thủ vững chắc. Dọc bờ biển Quảng Bình có các cửa sông hay ngã ba sông nhiều lũy, thành được người Chăm xây dựng tương đối quy mô. Lũy Hoành Sơn hay còn gọi là lũy Lâm Ấp, lũy Hoàn Vương được xếp bằng đá kéo dài theo dãy Hoành Sơn từ tây sang đông là một công trình như thế.

Sách Toàn thư bản kỷ - quyển 1 viết năm Nhâm Thìn (922), Lê Hoàn sai Phụ quốc là Ngô Tử An đem 3 vạn người làm đường vượt đèo Ngang sang miền địa lý của nước Chămpa. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng gọi lũy Lâm Ấp là lũy Hoàn Vương, cao 3 - 4 m, chân lũy rộng 15 - 20 m, bề mặt lũy rộng 5 m. Lũy kéo dài từ núi Thành Thang chạy qua các làng Tô Xá, Vân Tập, Phù Lưu, uốn quanh theo khe suối, vượt qua đồi núi trập trùng. Lũy Lâm Ấp có ý nghĩa phân chia lãnh thổ của hai quốc gia Đại Việt, Chămpa.

Phía nam sông Gianh, cách hệ thống sông lớn nhất Quảng Bình (dài 160 km) khoảng 1 km có thành Kẻ Hạ hay thành Lồi, thành Khu Túc. Đây chính là đại bản doanh nơi miền biên viễn phía bắc của quân binh Chămpa, là chiến địa mà người Chăm đã đứng vững và vươn lên giành chủ quyền trong suốt thời kỳ dài.

Thành nhà Ngo (thuộc hai làng Uẩn Áo và Quy Hậu), huyện Lệ Thủy, dài theo hướng đông - tây, rộng theo hướng bắc - nam. Bờ thành còn lại khoảng 20 m, còn một cửa phía đông bắc là tương đối rõ, rộng 15 m. Thành cao khoảng 1,55 m; riêng đoạn đông nam cao chừng 2,4 m. Chân thành kè đá tổ ong, đá hộc và gạch Chăm. Bao quanh ba phía (tây, đông, bắc) có hào rộng khoảng 29 m, riêng phía nam có sông Kiến Giang, là hào sâu bảo vệ thành lũy tránh khỏi những nguy cơ.

Phiên bản tượng Chăm Bồ tát Tara đang trưng bày tại Bảo tàng Tổng hợp Quảng Bình.

Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, nhận ra được ý nghĩa chiến lược của lũy, thành Chămpa, chúa Nguyễn (nam sông Gianh) đã cải tạo sử dụng lại thành Kẻ Hạ, còn chúa Trịnh (bắc sông Gianh) đã cho tu bổ, sử dụng lại hệ lũy Lâm Ấp phục vụ ý đồ quân sự của mình trong giai đoạn dài (1600 – 1777).

Những khu mộ Chămpa ở Quảng Bình được phát hiện rất nhiều. Người dân ở thôn Vân Tập, xã Quảng Lưu (huyện Quảng Trạch) bao đời nay vẫn truyền tai nhau câu chuyện ngôi mộ của vua Chăm, ban đêm nếu ở xa thì thấy một con lợn vàng phát sáng nhưng hễ tới gần thì không thấy nữa. Hay trong sách Đại Nam nhất thống chí chép ở Vân Tập có ngôi mộ xây đá vuông, chu vi khoảng 1 thước 5 tấc, trên mặt chạm nổi hình vuông. Qua nhiều đợt khai quật, các nhà khảo cổ học cho rằng ngôi mộ được xây dựng công phu và quy mô này là của một người Chăm có địa vị cao. Rải rác khắp các địa phương trong tỉnh còn phát hiện các khu mộ vò, là lối hỏa táng quen thuộc của người Chăm.

Tượng Chăm được phát hiện và sưu tầm ở Quảng Bình cũng là một dấu ấn văn hóa độc đáo. Năm 1918, người Pháp xây dựng Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng và đã đưa tượng Chăm phát hiện ở thôn Đại Hữu, xã An Ninh (huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) vào đây trưng bày. Ở Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh hiện nay còn 6 bức tượng đồng (thuộc thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 11) được phát hiện ở Quảng Bình, trong đó có bức tượng đồng Avalokitesvara cũng phát hiện tại thôn Đại Hữu, xã An Ninh (huyện Quảng Ninh) được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định vào tháng 12-2013 công nhận là Bảo vật Quốc gia  dựa trên tiêu chí độc bản, có giá trị đặc biệt.

Ở Quảng Bình còn có một hệ thống giếng Chăm dọc theo biển từ cửa Roòn, cửa Gianh đến cửa Nhật Lệ. Đó là các giếng có dạng hình vuông hoặc tròn được kè đá hay xếp gạch, bên dưới có lát gỗ, nước rất ngọt, trong vắt và không hề cạn nằm rải rác hầu khắp các địa phương trong tỉnh, nhiều nhất là ở làng Pháp Kệ, xã Quảng Phương (huyện Quảng Trạch) với 4 giếng Chăm cổ. Có một chi tiết độc đáo trong cấu trúc của những giếng Chăm cổ đó là giếng đa số có ba phần liền nhau trong đó phần lưng bệ thờ là phần trước hết, tiếp đến là phần bệ thờ thuộc phần giữa và giếng nước ở phần sau cuối và trung tâm nhất. Điều này hoàn toàn ứng với hình tượng Linga trong điêu khắc của người Chămpa cũng như nhân sinh quan triết học Ấn Độ. Điêu khắc Chămpa biểu thị hình tượng Linga thường có ba phần, phần dưới cùng là khối vuông, phần giữa là khối bát giác còn phần trên cùng là khối trụ tròn. Đó là ý niệm về sự tôn sùng mọi lúc mọi nơi đối với ba vị thần của Ấn Độ giáo (Brama, Visnu, Siva). Sau nữa là lời giải thích về thế giới quan bằng ba giai đoạn tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng ở trong trời đất bao gồm: sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt.

Từ khi vương quốc Chămpa thành lập cho đến ngày bị tàn phá, cư dân Chămpa đã có đời sống vật chất và tinh thần phát triển, tiêu biểu nhất là lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc. Những dấu ấn lịch sử lâu đời và độc đáo của văn hóa Chămpa tại Quảng Bình chính là những giá trị quý báu cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.