Kinh tế nền tảng số với năng lực cạnh tranh toàn cầu
Ngày nay, nền tảng số không còn là mô hình đặc quyền của các công ty công nghệ mà ngày càng trở nên phổ biến trong nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Những nền tảng số toàn cầu như Facebook, Google, mazon, Alibaba, v.v.. đã kéo theo sự phát triển của nhiều nền tảng nhỏ phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những ví dụ điển hình. Trung Quốc đã phát huy sức mạnh của cuộc cách mạng nền tảng số để giúp nền kinh tế nước này trở nên cạnh tranh hơn và đuổi bắt ngày càng nhanh hơn với những nền kinh tế phát triển.
Trong khung đánh giá Năng lực cạnh tranh toàn cầu của cách mạng công nghiệp 4.0, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã xác định 4 trụ cột quyết định, đó là:hệ sinh thái đổi mới sáng tạo,thị trường, nguồn nhân lực và môi trường kinh doanh thuận lợi.
Kinh tế nền tảng số là một bộ phận trong nền kinh tế quốc dân; để nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế, trước hết tự thân kinh tế nền tảng số phải trở nên cạnh tranh hơn. Chiến lược nhiều quốc gia đang theo đuổi đó là tạo dựng hệ sinh thái nền tảng, ở đó có sự hợp tác và đồng sáng tạo để kết nối được nhiều nền tảng với nhau. Theo đó, hợp tác sáng tạo đã trở thành nội dung cốt lõi để mang lại những thành công. Công ty Alibaba (Trung Quốc) đã tận dụng được sức mạnh cạnh tranh to lớn của đối tác bên ngoài để trở thành những năng lực của chính mình. Nhờ thiết lập quan hệ đối tác nền tảng với ShopRunner, một công ty dịch vụ hậu cần của Mỹ, bằng cách mua lại cổ phần đã có sẵn những thỏa thuận với các thương hiệu Mỹ của công ty này, Alibaba đã giao được sản phẩm từ Mỹ đến khách hàng ở Trung Quốc chỉ trong hai ngày.
Trong hoạt động kinh tế, môi trường kinh doanh bị chi phối bởi các yếu tố liên quan đến thể chế, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin và tính ổn định của kinh tế vĩ mô. Theo đó, nền tảng số góp phần quan trọng vào tạo lập môi trường kinh doanh, đặc biệt trong cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin. Ngoài nền tảng số, Chính phủ còn có vai trò đặc biệt quan trọng để tạo thuận lợi về thể chế và quan hệ hợp tác. Việc chia sẻ dữ liệu qua cổng truy cập mở của cơ quan quản lý Nhà nước sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển công cụ mà dân và doanh nghiệp có thể sử dụng để dễ dàng trong việc xây dựng; lập kế hoạch, dự án kinh doanh cũng như phát triển và quản lý nguồn nhân lực
Ở Việt Nam nền tảng số đã và đang thâm nhập vào thị trường trong các lĩnh vực, thị trường và những nền tảng hoạt động tương ứng của thế giới.Theo đó, những nền tảng kết nối đa được phát triển liên tục. Dữ liệu thống kê cho thấy, việc xây dựng, phát triển nền tảng số đã diễn ra đồng đều trên các lĩnh vực du lịch, dịch vụ, việc làm, giao thông vận tải, thương mại, tài chính, y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe; trong các ngành kinh tế công nghiệp,năng lượng. nông nghiệp, các hệ thống thông tin truyền thông, mạng xã hội và trong các hệ điều hành thông qua nền tảng sở hữu bởi các công ty đăng ký tại Việt Nam.
Không gian trên nền tảng số cho phép người sử dụng cải thiện đáng kể hiệu suất lao động và, khả năng đổi mới sáng tạo. Khác với cách tiếp cận công cụ tạo ra nguồn cung, cách tiếp cận nền tảng số giúp phát hiện ra nguồn cung cấp mới, cho phép mọi người đêu trở thành một nguồn tin tức mà không phải trở thành một nhà báo, gia tăng kho nội dung mà không cần thiết lập nhà truyền thông mới hoặc cho phép các công ty hoàn thành công việc mà không phải thuê thêm người làm công việc này. Sự sáng tạo của nền tảng số trong cách tiếp cận kinh doanh đang cổ vũ mạnh mẽ những đổi mới sáng tạo ngay cả ở người tiêu dùng.
Nền tảng kinh tế số nước ta đã đặt nền móng cho thành công của nhiều hoạt động kinh tế - xã hội; từ giáo dục, chăm sóc y tế đến quản lý nhà nước đều có những chuyển biến đi lên. Mặc dù đã có những kết quả khích lệ, nhưng các nhà hoạch định chính sách hiện đang gặp không ít khó khăn trước những biến động đã, đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra khi nền tảng kinh tế số ngày càng thâm nhập sâu vào đời sống xã hội, nhưng vẫn phải áp dụng hệ thống luật pháp cũ trên những hình thái kinh tế mới.
Khung khổ pháp lý thích nghi vấn đề đặt ra nhằm phát triển kinh tế nền tảng số
Thời gian qua, nền tảng số đã đặt nền móng cho những thành công của các hoạt động kinh tế-xã hội ở nhiều quốc gia. Mặc dù được tiếp cận với các nền tảng này từ sớm, nhưng ngay cả các nhà hoạch định chính sách ở Mỹ và châu Âu cũng gặp không ít thách thức. Họ phải đối mặt với những hình thái công việc, mô hình kinh doanh mới hoàn toàn khác biệt so với mô hình truyền thống như Uber đã từng gây biến động đối với người lao động và các chủ hãng taxi ở phương Tây, trong khi các nhà quản lý đất nước vẫn áp dụng hệ thống luật pháp cũ trong hoạt động điều hành.
Tại Việt Nam, trong nhiều ngành nghề, nền tảng số đang phát triển đòi hỏi phải có những thay đổi về khung khổ pháp lý, song nhà nước chưa thể tập trung giải quyết ngay các xung đột giữa mô hình kinh doanh truyền thống với mô hình mới xuất hiện. Vấn đề đặt ra là phải sớm xây dựng được khung khổ pháp lý thích nghi cho kinh tế nền tảng số, tạo môi trường thuận lợi để nền kinh tế này phát triển.
Trong nền kinh tế toàn cầu, ở nhiều quốc gia đang phát triển, sự tồn tại dai dẳng của các hoạt
động kinh tế theo mô hình truyền thống là một thách thức kinh doanh.Tại nhiều nước phát
triển, trong khi các mô hình truyền thống gần như bị ngưng trệ trước những cú sốc biến động
cung/cầu thì hàng loạt doanh nghiệp điện tử dựa trên nền tảng số lại không ngừng gia
tăng lợi nhuận. Có thể nhận thấy, kinh tế nền tảng số có khả năng giảm thiểu tối đa chi phí
mặt bằng, hàng tồn kho….. là những hạn chế lớn trong hoạt động thương mại ngày nay.Nếu
không có những sàn giao dịch điện tử, sẽ có hàng nghìn doanh nghiệp phải đóng cửa trên địa
bàn của một đô thị lớn.
Theo các nhà phân tích, việc nhà nước Việt Nam muốn điều chỉnh hành vi của Grab hoặc Uber trong giao thông vận tải giống như Vina Sun hay Mai Linh là chưa hợp lý, bởi những tổ chức này không cố định giá và số lượng lao động trong ngắn hạn. Cũng như Airbnb trong du lịch cũng không thể bị quản lý dịch vụ lưu trú giống như các công ty lữ hành khác, vì Airbnb không sở hữu bất cừ một cơ sở lưu trú nào. Giống như trong lính vực bán lẻ, cơ sở Tiki hoạt động hiệu quả hơn các siêu thị tổng hợp bởi họ chỉ sở hữu một lượng hàng hóa dự trữ nhỏ. Tương tự, trong nền kinh tế còn có một số nền tảng hoạt động dưới hình thức trung gian kết nối dựa trên nguồn lực, chứ không dùng sở hữu tài sản cố định để tham gia vào vào các hợp đồng và điều đáng chú ý là hầu hết những mô hình này đều mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vấn đề đạt ra là ai sẽ chịu trách nhiệm khi có vấn đề nảy sinh?, ai là người nộp thuế và cơ quan nào điều chỉnh hành vi? v..v..Những vấn đề gợi ra không thể giải quyết bằng hệ thống luật pháp hiện hành, bởi định danh của các chủ thể chưa được xác định rõ ràng.
Khác với mô hình đường ống của kinh tế truyền thống, kinh tế nền tảng số kết nối người có nguồn lực với người sử dụng nguồn lực dựa trên bình diện của nhiều chủ thể tham gia. Điều này khiến tư duy quản lý mô hình kinh doanh trên nền tảng của một ngành nghề và lĩnh vực sẽ không còn phù hợp, cần có những bổ sung để điều chỉnh các hoạt động này. Việc điều hành các nền tảng kinh tế số đòi hỏi các nhà quản lý phải có tư duy bao quát nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ thông tin để nhận định đúng về chủ thể và chức năng của nền tảng số.
Tọa đàm chính sách xây dựng một khuôn khổ pháp lý thích nghi tiếng nói của các nhà nghiên cứu và quản lý
Với mục đích góp phần làm sáng tỏ vấn đề ở Việt Nam, ngày 18 tháng 3 năm 2020, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã phối hợp cùng UP Gen tổ chức tọa đàm chính sách“Hướng tới xây dựng một khuôn khổ pháp lý thích nghi với Kinh tế nền tảng số”.
Lý giải về chủ đề tọa đàm, TS. Nguyễn Đức Thành, nguyên Viện trưởng VEPR cho biết, ở Việt Nam, nhận thức chung về nền kinh tế nền tảng vẫn chưa rõ ràng; tuy nhiên, vì nó đã tồn tại trong nền kinh tế, nên chính quyền Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề nảy sinh
Điều hành phiên thảo luận ThS. Bùi Hà Linh, nghiên cứu viên nhóm Kinh tế Vĩ mô thuộc VEPR nhấn mạnh, khi dịch Corona xuất hiện, nền tảng số phát triển ngày càng nhanh và mạnh mẽ hơn, đã khẳng định vai trò và sự ảnh hưởng sâu rộng của nền tảng kinh tế số trong cuộc sống của người dân.
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), TS. Võ Trí Thành cho rằng, chuyển đổi số là xu thế tất yếu. Trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, Việt Nam không thể rời bỏ khỏi xu thế này, bởi chúng ta có lợi thế và có thể đi cùng với thế giới.
Minh chứng cho điều này, TS.Thành cho biết, mạng 5G của Việt Nam đã có. Mặc dù còn một số tồn tại, nhưng là một trong những nước hàng đầu về công nghệ viễn thông; ta vẫn còn có lợi thế khác đó là dân số trẻ, nền kinh tế nhỏ, năng động. Theo ông"Muốn phát triển được trí tuệ nhân tạo (AI), yếu tố cốt lõi là hệ thống dữ liệu (data hay big data). Trong cạnh tranh phát triển, ai nắm bắt được dữ liệu, người đó sẽ thắng; Nước nào nắm được dữ liệu thế giới, của xu hướng thời cuộc, nước đó sẽ là người chiến thắng". Ông cho biết, virus Corona có tác động tới thế giới và Việt Nam, kinh tế số hiện là xu thế, có dịch Covid-19 hay không thì chúng ta cũng phải đi vào kinh tế số. Nhưng dịch bệnh xảy ra đã đẩy chúng ta nhìn thấy thực tế và thôi thúc đi nhanh hơn để nắm được lợi thế. TS. Thành nhận xét"…. người trẻ Việt trong dịch bệnh Covid-19 rất thức thời, họ tổ chức học nhóm bằng skypee, zalo, zoom, face fanpage; rồi họ tổ chức bán hàng qua trang điện tử, face, chuyển hàng bằng ship. Chính con cháu tôi đã làm; không phải chúng không có tiền mà chúng làm để học hỏi, để không lạc lõng….", và cho rằng, dịch Covid-19 không chỉ khiến cho xu thế kinh tế số trên thế giới được thúc đẩy nhanh hơn mà còn chỉ ra , đó là xu thế tất yếu, là cách thức vượt qua khó khăn, phải đi trước khi nghĩ đến làm điều gì phi thường khác.
Từ những đặc trưng của kinh tế số, ông Thành cho rằng, việc xây dựng khung khổ pháp lý không dễ, phải tôn trọng nguyên tắc tốc độ, linh hoạt, quan tâm đến lợi ích của tất cả các bên tham gia trong chuỗi giá trị sản phẩm và tiến hành việc thí điểm thử sai để định rõ ai làm, ai chịu trách nhiệm và ai điều hành.
Với cách nhìn của Hội đồng Kinh tế Hoa Kỳ-ASEAN, Phó Giám đốc điều hành khu vực Vũ Tú Thành cho biết, đối với các nền tảng số, cải cách mô hình quản lý nhà nước là vô cùng quan trọng. Mô hình truyền thống về tổ chức quản lý nhà nước đối với nền kinh tế được tổ chức theo hệ thống dọc. Nhưng sang thế kỷ 21, mô hình kiểu này đã chứng tỏ những bất cập như trong ngành y tế. Từ đó, ngành này cần bổ sung thêm tri thức công nghệ thông tin, tài chính và của các ngành. Tương tự, trong các ngành khác như giao thông vận tải cũng vậy. Trong kinh tế nền tảng, sự vận hành của nền kinh tế phát triển theo chiều ngang. Việc tổ chức lại bộ máy nhà nước cần thêm 1 tầng theo nghĩa mới là quan trọng. Đại hội Đảng lần thứ 12 đặt ra vấn đề tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tránh lãng phí, nhưng chưa đặt vấn đề thích ứng với nền kinh tế số trong tương lai. Cụ thể là, mỗi bộ hoặc nhiều tổ chức đang có những bộ phận giống nhau như pháp chế, công nghệ thông tin, đối ngoại, tài chính ngân sách... Các bộ phận này thường nặng về bảo vệ lợi ích của ngành mình, đôi khi xung đột với các ngành và bộ khác. Với mô hình mới, có thể quy toàn bộ công tác pháp chế về Bộ Tư pháp, có chân rết ở các ngành. Đó là tổ chức vận hành theo chiều ngang. Tương tự với đối ngoại, công nghệ thông tin, thương mại điện tử cũng vậy.
Đại diện tiếng nói của các doanh nghiệp, từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trưởng Ban Pháp chế Đậu Anh Tuấn cho rằng, Dịch Covid-19 có tác động tiêu cực nhưng cũng có mặt tích cực, giúp Việt Nam nhìn ra vấn đề của mình, đó là ứng dụng công nghệ vào phát triển như thanh toán mua hàng, dạy học…. Chỉ thị 11 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bộ máy tăng cường hoạt động điện tử hóa vào các hoạt động của mình. Ngay Chính phủ với bộ máy của nhiều bộ ngành, khá cồng kềnh mà còn chủ động thì chúng ta cũng nên mừng. Đại diện của VCCI nhấn mạnh: "Phát triển kinh tế số nên là tự thân chứ không nên chỉ ứng dụng vào thời điểm. Cần hướng đến nó là nền tảng, chủ động thay vì bị động. Việt Nam có cơ hội là dân số trẻ, doanh nghiệp nhỏ, dễ chuyển mình và dễ đổi mới".
Qua một buổi chiều làm việc sôi nổi, kết thúc tọa đàm, có thể rút ra nhận xét, kinh tế nền tảng số là vấn đề mới, nhưng nhân loại chắc chắn sẽ đi theo hướng này. Tuy nhiên, phát triển được nền kinh tế dựa trên nền tảng số cần hình thành và phát triển một loạt chính sách, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới khuôn khổ pháp lý. Những ý tưởng trong toạ đàm sẽ là nét phác thảo để tiến đến mở rộng vấn đề trong tương lai.