Cuốn nhật ký của cô bé 13 tuổi - tượng đài mang tên “Lương tri nhân loại”

 “Tôi muốn tiếp tục được sống ngay cả khi tôi đã chết” – đó là điều mà cô bé Do Thái13 tuổi Anne Frank đã viết…

Nhân kỷ niệm 76 năm kết thúc đại chiến thế giới hai (2/9/1945 – 2/9/2021), mọi người lại nhớ đến “Cuốn nhật ký của bé Anne Frank”: “Tôi muốn mình là người hữu ích, là người mang lại niềm vui cho mọi người xung quanh, thậm chí cả những người chưa thực sự biết tôi là ai. Tôi muốn tiếp tục được sống ngay cả khi tôi đã chết”. Vì gia đình Anne Frank là người Do Thái, nên bọn phát xít ra sức truy lùng, săn đuổi để tiêu diệt, nhất là ông bố Otto Frank, một người lính, một chủ nhà băng được nhiều người biết đến.

mt1a-1630742212.jpgBé Anne Frank lúc 13 tuổi.

Anne Frank, tên đầy đủ Annelies Frank, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1929, tại Frankfurt am Main, Cộng hòa Liên bang Đức, trong một gia đình Do Thái. Bố là Otto Frank, để tranh thảm họa phát xít, mùa hè 1933, Otto Frank bắt đầu sang Hà Lan, chuẩn bị cho cuộc di cư của gia đình, trong lúc đó vợ ông (bà Edith Aachen) và 2 con vẫn sống tại Đức. Tháng 12 năm 1933, bà Edith và chị của Anne là Margot sang Amsterdam-Hà Lan trước, đến tháng 2-1934, Anne và bố mới sang Hà Lan cùng gia đình. Tại đây, Anne theo học lớp mẫu giao tại trường Montessori.

mt2m-1630742423.jpgBé Anne Frank lúc 3 tuổi.

Năm 1940, Hà Lan bị Đức Quốc xã chiếm đóng, Anna Frank cùng gia đình ẩn náu trong một căn phòng kín, của ngôi nhà 263 phố Princegracht-Amsterdam, là sở hữu của gia đình Anna Frank từ tháng 9-1942, với sự giúp đỡ về lương thực, thực phẩm của một vài người bạn Hà Lan, gia đình Anne Frank sống an toàn cho đến ngày 4-8-1944, khi mật vụ Gestapo được bọn chỉ điểm báo, đã phát hiện ra căn phòng bí mật. Anne Frank và gia đình bị chúng bắt đưa đến trại tập trung Westerbork-Hà Lan, sau đó chúng đưa họ đến trại tập trung Auschwitz-Ba Lan và cuối cùng đưa đến Bergen-Belsen vào tháng 9-1944. Tại đây mẹ của Anne chết vào tháng 1-1945.Còn Anne Frank và chị gái Margot chết vào tháng 3-1945, chỉ một vài tuần trước khi trại này được giải phóng.

Cha của Anne Frank, ông Otto Frank được Hồng quân Liên Xô cứu sống ở trại tập trung Auschwitz ngày 27-4-1945. Sau đó trở lại Hà Lan, ông Otto Frank được những người quen biết trao lại tập nhật ký do Anne Frank viết lúc 13 tuổi, được tìm thấy trong căn phòng bí mật, sau khi cả gia đình bị bắt.

mt3n-1630742635.jpgHòn đá tưởng niệm Anne Frank, nơi bé ở với bà mình.

Vào lần sinh nhật lần thứ 13, ngày 12-6-1942, bé Anne Frank được bố tặng một cuốn sổ nhỏ màu đỏ. Kể từ ngày đó, cô bé giàu cá tính, hoạt bát và đầy nghị lực đã quyết định kể lại cuộc đời mình. Bé quyết định: “Bằng mọi giá tôi phải viết lại bằng được cuộc đời tôi”. Và thế là cứ mỗi ngày cô viết một lá thư cho một nhân vật ảo có tên là Ketty vào trong cuốn sổ do cha tặng, giống như cách viết nhật ký. Những ngày đầu sự việc không có gì đặc biệt. Nhưng rồi ngày tháng dần trôi qua…Và cuối cùng thế chiến giới thứ hai bùng nổ lan đến Hà Lan, nơi gia đình Anne Frank sinh sống.

Gia đình Anne Frank là người Do Thái, nên bọn phát xít ra sức truy lùng, săn đuổi để tiêu diệt. Vì thế ông O. Frank phải chuyển gia đình mình sang sinh sống ở Amsterdam, Hà Lan. Họ dọn đến một nơi mà Anne gọi là “Ngôi nhà phụ bí mật” để lẩn trốn những kẻ phát xít săn lùng, với sự giúp đỡ của 4 người Hà Lan thân tín.

mt4h-1630742752.jpg@ trang nhật ký mới tìm thấy ở Amsterdam, đươc công bố trong hội thảo, Ảnh AP 

Trong cuốn nhật ký, Anne Frank ghi đầy ắp những câu chuyện thường ngày của mình, những suy nghĩ của bé về cha mẹ, chị và những người hàng xóm, láng giềng sống quanh bé. Trong đó có những nhận xét rất đúng đắn, nghiêm túc về chủ nghĩa phát xít Hitler, những bất công mà bé và gia đình bé cũng như cả dân tộc Do Thái của bé phải gánh chịu.

Cuốn nhật ký đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Hà Lan năm 1947, sau đó được dịch ra Anh ngữ với tựa đề “The Diaryl of a young girl”.

Cuốn nhật ký được viết dưới ngòi bút của một em bé gái 13 tuổi, với cái nhìn trong sáng, thánh thiện về cuộc sống, con người, nỗi sợ hãi chiến tranh cũng như niềm tin vào cuộc sống, đã lập tức chinh phục được độc giả trên toàn thế giới và nhanh chóng được dịch ra trên 50 thứ tiếng.

Nhật ký Anned Frank đã trở thành một tác phẩm kinh điển về lương tri và khát vọng hòa bình của con người. Nhật ký Anne Frank không chỉ mang lại cho người đọc những tư liệu lịch sử quý giá, sống động mà còn mang đến những tình cảm thật sự, những suy nghĩ rất trẻ con mà cũng rất già dặn của Anne Frank. Với tất cả những gì bé trình bày trong đó, Anne Frank đã biểu tượng hóa sức mạnh của cuốn sách. Cuốn nhật ký được viết năm 1944, trên một căn gác bí mật của một nhà kho tại Amsterdam, Anne Frank trở thành nhân vật đáng nhớ nhất trong thế chiến thứ II. Nhật ký Anne Frank tràn đầy tính nhân đạo và chính điều này đã giúp cho thế giới lưu lại được câu chuyện về một bé gái nổi tiếng nhất trong lịch sử.

Bé Anne Frank với đôi mắt cương nghị, hiền dịu, vui vẻ đã tác động tới tất cả những ai đọc qua cuốn sách của bé.

Quyển sách của Anne Frank, đã chuyển tải toàn bộ câu trả lời – những vở kịch, những bộ phim, những tư liệu, tiểu sử và những bài viết mang tính phê bình cuốn nhật ký – tất cả nhằm để chúng ta hiểu thêm về bé.

Trong một bài báo đánh giá cao quyển sách như một cuốn Thánh kinh và tác giả đã đặt ra cho chúng ta một câu hỏi: Anne Frank thuộc về ai? Niềm say mê mà cuốn sách đã tạo nên cho chúng ta biết rằng bé thuộc về tất cả mọi người, rằng bé đã vượt lên trên tất cả sự tàn phá, hủy diệt đối với dân Do Thái, với tuổi thơ và đã trở thành một hình ảnh tượng trưng của đức tin trong thế giới hiện đại, một thế giới mà trong đó những ý tưởng đạo đức cá nhân luôn bị ám ảnh bởi sự tàn phá của máy móc nhưng luôn luôn đấu tranh cho quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc và hy vọng vào tương lai của con người.

Khi Đức quốc xã xâm lược Hà Lan, cũng như bao gia đình Do Thái khác, gia đình Anne Frank đã trở thành nạn nhân của chế độ diệt chủng. Đầu tiên, người ta cấm người Do Thái tham gia các hợp đồng thương mại. Sau đó tất cả sách của họ đều bị đốt bỏ.Tiếp đó là đạo luật Aryan (Luật dòng dõi Đức) tác động đến vấn đề kết hôn khác chủng tộc. Người Do Thái bị cấm xuất hiện ở các công viên, bãi biển, rạp chiếu bóng, thư viện. Đến năm 1942, người Do Thái còn bị buộc phải đeo những ngôi sao vàng gắn trên áo ngoài. Họ cũng bị cấm sử dụng dịch vụ điện thoại, cấm đi xe đạp. Cuối cùng Otto Frank và gia đình Van Pel đã quyết định đi lánh nạn. Trong hai năm, họ đã phải sống chui lủi trong các căn phòng bí mật cho tới khi bị bắt, nhưng Anne lại có được cả một thế giới tự do để ghi nhật ký. Ngay trang đầu, bé viết: “Tôi mong quyển sách này sẽ là niềm an ủi, sự trợ giúp lớn lao đối với tôi”. Bé khi ấy, không biết sự trợ giúp ấy lớn lao đến đâu, nhưng dường như nhận thức về sức mạnh trong bé ngày càng lớn lên theo thời gian. Một năm trước khi chết vì bệnh sốt phát ban tại trại tập trung Bergen-Belsen, bé viết: “Tôi muốn mình là người hữu ích, là người mang lại niềm vui cho mọi người xung quanh, thậm chí cả những người chưa thực sự biết tôi là ai. Tôi muốn tiếp tục được sống ngay cả khi tôi đã chết”.

Lý do cho sự bất tử của Anne Frank thật dễ hiểu. Em là một cây viết thật đặc biệt trong mọi thời đại. Chất lượng trong những trang viết của em là kết quả trực tiếp từ khuynh hướng tả thực đến độ tàn nhẫn. Khiến hàng triệu con tim đã rung động trước những đoạn văn trong sáng trong tập nhật ký của em (được bố em cho xuất bản lần đầu). Và bản in năm 1995 (kỷ niệm 50 năm chiến thắng phát xít), lại làm đốn tim triệu triệu độc giả với việc tôn vinh em như một hiện tượng của sự trong sáng. Những ảnh hưởng sâu sắc của Anne đối với bạn đọc xuất phát từ một hiện tượng rằng em là một bé gái thông minh bẩm sinh. Em rất tò mò và tỏ ra nghi ngờ về tôn giáo. Em tin rằng trong bản thân mình tồn tại hai tâm hồn trái ngược nhau. Tất cả những điều đó biến em thành một con người “hữu ích”, theo cách gọi của em. Một con người đáng được mọi người ngưỡng vọng. Em không đơn giản là người sinh ra đã được Chúa ban tặng cho tính hào phóng. Em phải đấu tranh để có được nó theo cách riêng của mình, rất kiên trì, không khoan nhượng, tất cả nhằm thử thách phẩm chất của một ý tưởng: “Dù sự thật có tồi tệ đến đâu thì tôi vẫn tin rằng trong sâu thẳm trái tim mỗi người, cái thiện vẫn luôn luôn tồn tại”. Nhưng đoạn văn sau đó, em lại cho chúng ta thấy: “Đơn giản là tôi không thể xây dựng những ước mơ trên nền tảng của sự lộn xộn, nghèo khổ và cái chết. Tôi thấy thế giới đang dần biến thành sa mạc hoang tàn. Tôi nghe thấy sấm sét đang đến gần và nó sẽ hủy diệt chúng ta. Tôi có thể cảm nhận được hàng triệu con người đang rên xiết vì đau khổ. Và khi nhìn lên thiên đường, tôi nghĩ rằng mọi việc rồi sẽ ổn, rằng tội ác sẽ chấm dứt và hòa bình, nhịp sống bình lặng sẽ quay trở lại. Tôi luôn luôn ủng hộ cho ý tưởng của mình bởi một lúc nào đó, tôi có đủ năng lực để thực hiện nó ”.

Đây không còn đơn giản là niềm lạc quan trẻ thơ mà là một tuyên bố có cơ sở, một cách thức đối đầu hiệu quả đối với một thế lực đang vùi dập em. Đó là lời tuyên bố của người dân Do Thái trên những gác mái chật hẹp. Đó đồng thời cũng là tiếng kêu than của nhân loại thế kỷ XX, của những người tị nạn buộc phải lang thang trong công xưởng bỏ hoang của một ai đó, của những người mù, kêu gọi đòi trả lại cho họ ánh sáng.

Trong một trang viết sau này, em tự hỏi: “Luôn luôn hành động theo lương tâm mình là tốt hay không?”. Trong một đoạn diễn tả đầy trong sáng, ý tưởng của em cho rằng sự thật nằm ngoài vấn đề của mỗi người đã tiến gần đến một điều phi thường. Nhưng dù sao thì mọi người vẫn thừa nhận cơ sở vững chắc của nó và vì thế họ ngưỡng mộ Anne.

Thực ra họ yêu mến em cũng như họ yêu mến sách của em vậy. Quyển nhật ký của em không chỉ cho chúng ta biết con người tốt đẹp như thế nào mà còn cho thấy sự cần thiết đôi khi phải thỏa hiệp với lương tâm trong mỗi con người, có lẽ là trong những hoàn cảnh tồi tệ nhất. Quyển sách gợi lên câu chuyện một người vì mọi người và cho chúng ta thấy rằng, dù có phải hy sinh cả cuộc đời, chúng ta cũng phải thực hiện được điều đó.

Cùng với mẹ và chị gái, Anne mãi mãi ra đi ở tuổi 15 đã để lại cho thế giới này cuốn nhật ký của em như một tuyên ngôn bất tử về niềm tin và điều thiện.

Với giá trị vĩnh cửu của quyển nhật ký mà hình ảnh Anne Frank vẫn sống mãi với nhân loại yêu chuộng hòa bình. Bởi thế nhân kỷ niệm lần thứ 75 sinh nhật của Anne Frank (16-2-2004), Website đã chiếu một đoạn phim ngắn duy nhất còn lại về cô bé người Do Thái được thực hiện năm 1941, trước khi gia đình em đi tìm chỗ trốn tránh trong thế chiến thứ II. Đoạn clip đen trắng cho thấy Anne Frank đang nhìn ra ban công, xem cảnh chuẩn bị làm đám cưới của một người láng giềng. Website cũng có ảnh và lời chứng của những người thân trong gia đình và những người hàng xóm, trong đó có một trong 4 bạn thân người Hà Lan của ông Otto Frank, đã từng giúp đỡ gia đình Anne trốn quân Đức quốc xã là bà Miep Gies, một phụ nữ Hà Lan nhân hậu, lần đầu tiên được công bố dưới hình thức kỹ thuật số. Website có khoảng 20 đoạn phim ngắn mang tính lịch sử đầy đủ nhất về Anne Frank trên Iternet.

Ở Việt Nam, ảnh hưởng cuốn nhật ký của Anne Frank (the Diary of Anne Frank) cũng rất lớn. Trong một lá thư gửi cho Anne, nhà báo Thu Thủy viết:

“Anne thân mến!

Cho phép tôi được gọi như vậy, mặc dù hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ cái ngày tháng 7 định mệnh ấy, khi em cùng gia đình bắt đầu cuộc lẩn trốn bàn tay tàn bạo của phát xít. Trong tôi, em mãi mãi là Anne của ngày hôm đó, một cô bé 13 tuổi, mảnh mai, mái tóc đen nhánh, đôi mắt to tỏa sáng và nụ cười thánh thiện như một thiên thần”. Thu Thủy khẳng định: “Nếu có một tượng đài mang tên “Lương tri nhân loại”, tôi hình dung nó là hình ảnh của em trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình tại trại tập trung Bergen-Belsen, đó là một cô bé gầy gò, tiều tụy, người đứng thẳng với đôi mắt sáng lạ lùng, đó là một cô bé dịu dàng như điều thiện, hồn nhiên như hoa cỏ, nhưng cũng cứng cỏi như chân lý, bên cạnh đó sẽ là lời nhắn nhủ cuối cùng của Julius Fucik: “Hỡi loài người, hãy cảnh giác”./.

Top of Form

 

Bottom of Form