#

Lịch sử Việt Nam (Từ tiền sử đến năm 2007) (Kỳ 17)

Trân trọng giới thiệu tiếp với bạn đọc tác phẩm “Lịch sử Việt Nam từ tiền sử đến năm 2007” của PGS TS Cao Văn Liên  do NXB Thanh niên ấn hành năm 2009.

cvl2-1625964744.jpg

Kỳ17

Hầu như không gặp một sức kháng cự nào, quân Thanh chiếm miền Bắc Đại Việt và kinh thành Thăng Long một cách quá dễ dàng, lại nhận được thư mà lời rất lẽ mềm dẻo của Nguyễn Huệ gửi ra khiến cho Tôn Sĩ Nghị vô cùng chủ quan khinh địch. Ngày 16 tháng 12 năm 1788 quân Thanh vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị ra lệnh ngừng cuộc tấn công, đóng quân lại ăn tết, dự tính đến ngày 31 tháng 1 năm 1789 (ngày 6-1 âm lịch) sẽ vào Phú  Xuân bắt sống Nguyễn Huệ. Nghị nói: “Bây giờ đó sắp hết năm,  đại quân xa xôi tới đây cần phải nghỉ ngơi không nên đánh vội. Giặc gầy mà ta béo, hãy để chúng tự đến nộp thịt”. Rồi Tôn sĩ Nghị cho bố trí thế trận phòng ngự tạm thời như sau: Đại bản doanh của chủ soái Tôn Sĩ Nghị đóng ở bến Tây Long (Vị trí ở Nhà Hát Lớn bây giờ). Các đạo quân bảo vệ tổng hành dinh có đạo chủ lực gồm quân tinh nhuệ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đóng ở bờ của hai bên bờ sông Hồng, giữa bắc cầu phao đi lại.  Đạo thứ hai do Sầm Nghi Đống chỉ huy đóng ở đồn Khương Thượng (Đống Đa) bảo vệ Tây nam Thăng Long. Đạo thứ ba gồm quân Vân Nam, Quí Châu do đề Đốc Ô Đại Kinh chỉ huy đóng ở Sơn Tây. Đạo thứ tư gồm quân Khâm Châu từ Quảng Ninh tiến vào đóng ở Hải Dương. Quân Thanh ở các nơi đặc biệt là ở Thăng Long thả sức giết người, cướp bóc, hãm hiếp không kiêng sợ gì cả. Vận nước thật là nguy nan. Nhân dân Bắc Hà sôi sục căm thù bè lũ bán nước và quân giặc cướp nước lại hướng về Nam trông ngóng bóng cờ đại nghĩa cứu nước của quân đội Tây Sơn.

   Năm ngày sau khi giặc vào Thăng Long, ngày 21 tháng 12 năm 1788, tại Kinh thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhận được thư cấp báo của Ngô Văn Sở do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa trình tới. Sáng 22 tháng 12 năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy đế hiệu là Quang Trung, tự gánh trách nhiệm cứu nước trước toàn dân tộc. Sau lễ đăng quang, Quang Trung đem 5 vạn quân thuỷ bộ hành quân thần tốc ra Bắc Hà. Ngày 26 tháng 12 năm đó đại quân Tây Sơn ra đến Nghệ An. Tại đây,  Quang Trung đã viết ba bức thư lời lẽ hết sức khiêm nhường, trình bày sự thay thế nhà Lê là bất đắc dĩ, rồi phái đoàn sứ bộ doTrần Danh Bích cầm đầu đem cho Tôn Sĩ Nghị. Mục đích những bức thư này nhằm làm cho Tôn Sĩ Nghị chủ quan khinh địch, tiếp tục đóng quân ăn tết, duy trì cơ hội phản công của quân Tây Sơn. Tại đây,  Quang Trung ra lệnh tuyển quân và tổ chức một cuộc duyệt binh lớn ở trấn doanh Nghệ An. Tại cuộc duyệt binh, Quang Trung đã đọc một bài hịch kêu gọi động viên tinh thần yêu nước của các tướng sĩ rồi tiếp tục dẫn đại quân tiến ra Bắc. Tới Thanh Hoá, Quang Trung tiếp tục tuyến quân và đây là cuộc tuyển quân sâu rộng. Giáo sĩ Pháp Bít xa se có mặt tại nước ta khi đó đó viết trong hồi ký của mình : “Ông (Quang Trung) đi suốt ngày đêm, dọc đường dùng quyền lực thu nạp tất cả những người có thể cầm được vũ khí.  Ông ta không có lương thực nào khác ngoài lương thực tìm thấy trong các làng mà ông đã đi qua. “Xuất phát từ Phú Xuân, quân Tây Sơn có 5 vạn,  đến Nghệ An, Thanh Hoá qua những đợt tuyển quân rộng lớn quân số Tây Sơn đó lên đến 10 vạn. Những tân binh mới nhập ngũ đều được xếp ở trung quân do Vua Quang Trung trực tiếp chỉ huy. Tại Thanh Hoá,  Quang Trung làm lễ thệ sư ở Thọ Hạc.  Ông mặc áo chiến bào, giáp trụ, cỡi voi động viên và ra lệnh cho các tướng sĩ. Huệ dứt lời, quân lính dạ ran như sấm rung động cả hang núi, làm cho trời đất biến đổi cả cảnh sắc. Rồi Vua Quang Trung thúc quân đi gấp ra Tam Điệp. Sắc phục quân Tây Sơn toàn mầu đỏ cùng cờ đỏ đi rợp đất, khí thế hùng mạnh, rầm rộ thần tốc. Ngày 15 tháng 1 năm 1789 (20 tháng12 âm lịch), quân đội Tây Sơn tới phòng tuyến Tam Điệp. Tại đây, sau khi nắm chắc tình hình địch và hình thành phương lược tiến đánh quân Thanh, Vua Quang Trung tin tưởng tuyệt đối vào chiến thắng  của quân đội Tây Sơn.  Ông truyền niềm tin sắt đá đó cho các tướng sĩ của mình. Trong lễ khao quân ngày 30 tết (30 tháng 12 năm 1788 âm lịch), vua Quang Trung tuyên bố trước đại quân sẽ giải phóng Thăng Long trước ngày 6 tháng giêng. Để thực hiện chiến dịch Thăng Long thắng lợi, Quang Trung xác định hướng tấn công chủ yếu của chiến dịch là đánh vào đầu não địch là đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long, tiêu diệt đạo quân chủ lực, đập nát hệ thống phòng ngự của địch. Muốn vậy, trước tiên phải đập tan các đồn lớn nhỏ của quân Thanh ở tuyến phũng ngự Nam Thăng Long như Gián Khẩu, Thanh Liêm, Nhật Tảo, Phú Xuyên, Hà Hồi và Ngọc Hồi, trong đó đồn Ngọc Hồi là then chốt nhất, cứ điểm phòng ngự mạnh nhất, có ý nghĩa quyết định mở toang cánh cửa vào Thăng Long.  Để thực hiện mục tiêu chiến dịch thắng lợi, vua Quang Trung đã chia 10 vạn quân thành 5 đạo: Đạo thứ nhất là đạo chủ lực do vua Quang Trung trực tiếp chỉ huy, Đại đô đốc Vũ Văn Dũng làm phó tuớng,  đạo này tập trung lực lượng cao bao gồm nhiều quân binh chủng: bộ binh, kỵ binh, tượng binh, vũ khí ngoài giáo mác cung tên còn có hỏa hổ,  đại bác, đạo chủ lực có sức cơ động nhanh, công phá mạnh. Nội hầu Phan Văn Lân đi tiên phong,  Đại tư mã Ngô Văn Sở đi trung quân để nhà vua sai phái, Hám hổ Hầu Chiêu viễn tướng quân đi hậu quân đốc chiến.  Đạo quân chủ lực nhằm thẳng các đồn quân Thanh ở phía Nam Thăng Long mà công phá.  Đạo quân thứ hai do Đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy bao gồm kỵ binh, tượng binh rất mạnh và cơ động , có nhiệm vụ từ Tam Điệp đi xuyên qua Chương Đức (Hà Tây) rồi qua Nhân Chính (Thanh Trì, Hà Nội) bất ngờ tiêu diệt đạo quân của tri phủ Điền Châu Sầm Nghi Đống ở Khương Thượng (Đống Đa) rồi qua Ô Chợ Dừa thọc nhanh vào Thăng Long gây bất ngờ rối loạn, uy hiếp đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị, làm cho quân địch choáng váng , tự tan vỡ.  Đạo thứ ba thuộc lực lượng dự bị chiến lược do Đô Đốc Bảo chỉ huy gồm kỵ binh, đặc biệt có một đội tượng binh rất mạnh, hành quân qua Sơn Minh, Ứng Hoà (Hà Tây cũ – nay là Hà Nội).  Đạo quân này đi giữa đạo chủ lực của vua Quang Trung và đạo quân của Đô đốc Đặng Tiến Đông, có nhiệm vụ tiếp ứng cho đạo chủ lực và tham chiến công phá Ngọc Hồi.  Đạo quân thứ tư do Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy,  lực lượng chính là thuỷ quân, vượt biển từ Biện Sơn vào sông Lục Đầu tiêu diệt đạo quân Thanh ở Hải Dương, uy hiếp mặt nam Thăng Long, phối hợp với đạo quân chủ lực. Đạo thứ 5 gồm thuỷ quân do Đô đốc Lộc chỉ huy vượt biển vào sông Lục Đầu, tiến lên Phượng Nhãn (Bắc Giang) chặn đường tiêu diệt quân Thanh bại trận tháo chạy về nước.

   Đêm 25 tháng 12 năm 1789 (30 tháng 12 âm lịch),  đạo quân chủ lực của vua Quang Trung vượt sông Gián Khẩu bắt đầu chiến dịch. Toàn bộ quân Thanh ở bờ sông Nguyệt Quyết và Nhật Tảo bị tiêu diệt. Nửa đêm 28 tháng 1 (3tết) quân Tây Sơn buộc quân địch ở đồn Hà Hồi phải đầu hàng.

   Đêm 30 tháng 1 năm 1789 (Canh 5 ngày 5 tết âm lịch Kỷ Dậu), đại quân chủ lực do vua Quang Trung chỉ huy mở cuộc tấn công dũng mãnh vào phía nam đồn Ngọc Hồi. Quân đội Tây Sơn đầu buộc khăn đỏ, dương cờ đỏ biểu hiện tinh thần quyết chiến. Vua Quang Trung buộc khăn vàng vào cổ, cỡi voi ra trận trực tiếp chỉ huy trận đánh. Trong đêm tối, quân Tây Sơn tràn qua đồn Bình Vọng, ào ạt xụng tới Ngọc Hồi,  đi đầu là 100 con voi chiến hùng mạnh công phá. Chủ tướng đồn Ngọc Hồi là Đề đốc Hứa Thế Hanh tung đội kỵ binh thiện chiến ra đối phó nhưng gặp voi, ngựa sợ hãi chạy trở về chà đạp lên nhau tan vỡ. Quân Thanh rút vào đồn luỹ cố thủ, dùng đại bác và hoả khí bắn xuống dữ dội như mưa để cản bước quân Tây Sơn. Vua Quang Trung ra lệnh cho đội voi chiến rẽ về hai bên tả và hữu mở đường cho đội xung kích lao lên.  Đội xung kích gồm 600 dũng sĩ cảm tử, lưng giắt dao ngắn, 200 người đi đầu khiêng 20 tấm ván dầy, bện rơm thấm nước che súng đạn và lửa cho 400 dũng sĩ theo sau, làm cho súng đạn quân Thanh mất hiệu lực. Quân Thanh liền dùng hoả đồng phun khói lửa xuống nhằm làm quân Tây Sơn rối loạn. Khắp chiến trường khói lửa mịt mù, gang tấc không trông thấy nhau. Quân Tây Sơn “Hợp lại đông như kiến cỏ, thế lên ào ạt như nước thuỷ triều dâng”.  Đến chiến luỹ đội cảm tử bỏ mộc, dùng đoản đao và vũ khí phá tan cửa luỹ, mở đường cho kỵ binh, tượng binh, bộ binh ào ạt tiến vào. 100 con voi từ hai cánh đông –tây cũng tạt vào. Quân Tây Sơn tung hoành chém giết. Từ trên mình voi, quân Tây Sơn dùng đại bác, hoả hổ đốt phá chiến luỹ và doanh trại quân địch. Đồn Ngọc Hồi ngập chìm trong khúi lửa. Quân Thanh tan vỡ bỏ chạy tán loạn, dầy xéo lên nhau mà chết.  Địch tháo chạy ra ngoài theo hướng bắc, vướng địa lôi do chính chúng cài mà chết thêm vô kể. Mô tả trận huyết chiến khủng khiếp này, Hoàng Lê nhất thống chí viết: Quân Thanh chống cự không nổi bỏ chạy tán loạn,  dầy xéo lên nhau mà chết, Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng máu chảy thành suối. Quân Thanh đại bại. Toàn bộ phòng tuyến phía nam Thăng Long sụp đổ. Chỉ huy trưởng mặt trận phía nam Thăng long kiêm phó tướng cuộc Nam chinh Đề đốc Hứa Thế Hanh, Tổng quan tả dực quân Thượng Duy Thăng đều tử trận.

   Số quân Thanh còn lại theo Tổng binh Trương Triều Long chạy về hướng Thăng Long nhưng bị kỵ binh Tây Sơn đón đường làm cho khiếp sợ chạy dạt về hướng tây. Khi qua cầu Vĩnh Quỳnh (Thanh Trì, Hà Nộị) gặp đội tượng binh của Đô đốc Bảo chặn trước mặt, sau lưng đại quân Tây Sơn đang truy kích tới. Quân Thanh bị dồn vào Đầm Mực (Phía tây làng Quỳnh Đô, xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì , Hà Nội) và bị voi Tây Sơn dầy đạp chết hàng vạn tên, trong đó có Tổng binh Trương Triều Long. Như vậy chỉ một buối sáng ngày 5 tết Kỷ dậu, quân Tây Sơn đã phá tan cứ điểm Ngọc Hồi, tiêu diệt 3 vạn tên địch, trong đó có 3 danh tướng cao cấp của nhà Thanh, đập nát tuyến phòng thủ phía Nam, mở toang cánh cửa vào Thăng Long.

   Trong khi đạo quân chủ lực đang quyết chiến ở mặt trận phía nam Thăng Long thì sáng 5 tết, khi trời còn tối, đạo quân do đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy đã vượt sông Tô Lịch tiến đánh đồn Khương Thượng. Trong phút chốc, 5000 quân Thanh bị diệt. Sầm Nghi Đống rút lên núi Loa Sơn cầm cự. Nhân dân Thăng Long đem rơm rạ chất cao như núi quanh đồn Khương Thượng mà đốt tạo nên thế trận rồng lửa dữ dội. Bốn bề lửa cháy rực trời, tiếng reo hò chém giết dậy đất. Quân Thanh tan vỡ bị chém giết, phần tự dẫm đạp lên nhau mà chết. Thế cùng lực kiệt, Sầm Nghi Đống treo cổ tự sát.  Đội thân binh của Sầm tự sát theo chủ vài trăm tên.  Đồn Khương Thượng với vài vạn tên địch hoàn toàn bị tiêu diệt. Quân Tây Sơn thừa thắng tiêu diệt luôn đồn Yên Quyết (Nam Đồng, Hà Nội) và tràn vào cửa tây nam Thăng Long. Sự thần tốc xuất hiện của quân Tây Sơn uy hiếp đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị làm cho Nghị hoảng loạn. Dù trong tay còn gần 20 vạn quân mà Nghị sợ mất mật, người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp thắng yên, dẫn bọn cận vệ qua cầu phao nhằm hướng Bắc bỏ chạy. Gần 20 vạn quân Thanh ở các doanh trại nghe tin chủ tướng bỏ chạy cũng tự tan vỡ tranh nhau qua cầu phao rơi xuống sông chết vô kể. Tôn Sĩ Nghị sợ quân Tây Sơn qua cầu đuổi theo ra lệnh chặt cầu làm hàng vạn quân Thanh rơi xuống nước chết, xác lấp kín sông Nhị Hà làm tắc nghẽn dòng chảy của nước. Tàn quân Thanh và Tôn Sĩ Nghị chạy đến Phượng Nhãn bị quân của Đô đốc Lộc chặn đánh tan tác phải chạy dạt vào rừng. Tôn Sĩ Nghị bỏ hết mọi thứ kể cả sắc thư, kỳ bài, quân ấn chủ soái của vua Thanh ban để chạy. Nghị cùng viên bí thư riêng là Trần Nguyên Nhiếp chạy 7 ngày 7 đêm nhịn đói nhịn khát mới về được Trấn Nam Quan. Cảnh chạy trốn đó làm cho miền biên ải phía nam Trung Quốc rung động. Từ Nam Quan về Bắc, già trẻ, trai gái dắt díu bồng bế nhau chạy trốn, suốt vài trăm dặm lặng ngắt không một bóng người.

(Còn nữa)

CVL